1. Ranh giới, phạm vi nghiên cứu và mối liên hệ vùng:
  • a. Ranh giới, phạm vi nghiên cứu:
    • Vị trí : Công trình được đặt ở xóm Thuận Yến, làng Sơn Mỹ, nằm về phía Đông Bắc của thành phố Quảng Ngãi, khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam (thuộc xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam). Sân bay gần nhất là sân bay Chu Lai, cách đó 32 km, nằm ở địa phận giáp ranh giữa tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam. (bản đồ 1,2)

    • Ranh giới khu đất tiếp giáp như sau :

      • Phía Đông giáp : khu dân cư và cánh đồng hiện hữu.

      • Phía Tây giáp : khu dân cư và cánh đồng hiện hữu.

      • Phía Nam giáp : Quốc lộ 24B

      • Phía Bắc giáp : rạch và cánh đồng hiện hữu.

    • Diện tích : 41,0 ha, bao gồm:

      • Khu vực A (25,8ha): triển khai dự án

      • Khu vực B (15,2ha): nghiên cứu, định hướng phát triển và gắn kết với khu A tạo thành một quần thể thống nhất. Khu này có thể bàn giao cho Quỹ thực hiện trong giai đoạn sau hoặc do Tỉnh triển khai thực hiện.

Bản đồ 1

Bản đồ 2

  • b. Mối liên hệ vùng
    • Quãng trường hòa bình Mỹ Lai gắn kết với Khu chứng tích Sơn Mỹ, xã Tịnh Khê, thành phố Quãng Ngãi, là một trong những điểm tham quan quan trọng trong hệ thống mạng lưới du lịch chung của Khu du lịch Mỹ Khê.
    • Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ, Mỹ Khê là 1 trong 9 khu du lịch quốc gia của Vùng duyên hải Nam Trung Bộ và đảo Lý Sơn là 1 trong 6 điểm du lịch quốc gia của Vùng duyên hải Nam Trung Bộ.
    • Với Việt Nam: Mỹ Khê thuộc thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nằm ở khu vực miền Trung Việt Nam, cách Hà Nội khoảng 900 km, cách Đà Nẵng khoảng 120 km, cách Quy Nhơn (Bình Định) khoảng 200 km và cách TP Hồ Chí Minh khoảng 850 km. Khu du lịch Mỹ Khê có mối liên hệ chặt chẽ với hành lang kinh tế Đông Tây, gần tuyến giao thông huyết mạch và tuyến du lịch chính của Việt Nam – Quốc lộ 1A.
    • Với Miền Trung: Mỹ Khê nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với các động lực kinh tế chính: Đà Nẵng – trung tâm đô thị lớn nhất của vùng; Quy Nhơn – cảng biển quan trọng của Miền Trung; Các khu di sản thế giới quan trọng của Việt Nam: Cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn. Mỹ Khê có khoảng cách gần và kết nối thuận tiện với hệ thống sân bay: Đà Nẵng (sân bay quốc tế), Chu Lai, Quy Nhơn
2. Địa hình:
Khu đất quy hoạch có địa hình tương đối phẳng, có khuynh hướng đổ dốc từ trục giao thông về hệ thống kênh rạch với độ dốc nền trung bình 0,25%. Đây là khu vực có nền đất thấp, bị ngập vào mùa mưa, lũ.
3. Khí hạu
  • Khu vực lập quy hoạch nằm trong vùng khí hậu đặc trưng cho khí hậu Duyên hải miền Trung Việt Nam với những đặc điểm:
  • Nhiệt độ: Mùa Đông ít lạnh, nhiệt độ trung bình mùa Đông là 22oC, nhiệt độ cực tiểu tuyệt đối không xuống dưới 12,8oC (tháng 1/1963). Tháng lạnh nhất là từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau.
  • Mùa hè: Nhiệt độ cao khá đồng đều. Tháng nóng nhất từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình vượt quá 28oC. Cao nhất 41,4oC (tháng 6/1942). Nhiệt độ trung bình hàng năm 25,8oC – 26,3oC.
  • Lượng mưa: Mùa mưa ở đây cũng khá lớn. Mưa bắt đầu từ tháng 8, kết thúc tháng 1. Ba tháng mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10 và tháng 11, có lượng mưa vào khoảng 500 – 600mm/tháng. Hai tháng cuối mùa mưa ít hẳn, chỉ khoảng 100 – 150mm/tháng.
  • Mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7, lượng mưa trung bình vào khoảng 30 – 40mm/tháng. Số ngày mưa trung bình khoảng 150 ngày. Lượng mưa trung bình năm khoảng 2.300mm.
  • Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm tương đối cao, khoảng 83 – 85%. Thời kỳ ẩm ướt kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau với độ ẩm trung bình thời kỳ này vào khoảng 87 – 90%. Thời kỳ khô từ tháng 8, độ ẩm trung bình khoảng 80%, độ ẩm thấp nhất có thể xuống đến 33% (Khoảng từ tháng 6 đến tháng 7).
  • Nắng: Tỉnh Quảng Ngãi có số giờ nắng từ 1800 – 2000h/năm. Các tháng có lượng bức xạ mặt trời cao vào khoảng 14Kcal/cm2 là tháng tư đến tháng 7. Các tháng có lượng bức xạ mặt trời thấp vào khoảng 8Kcal/cm2 là tháng 11 đến tháng 1. Tổng bức xạ cả năm là 143,3 Kcal/cm2.
  • Gió: Theo số liệu báo cáo của trạm khí tượng tỉnh Quảng Ngãi (1976 – 2001). Nhìn chung gió của Quảng Ngãi không mạnh. Hướng gió thịnh hành vào tháng 8 đến tháng 2 là hướng Bắc, Tây Bắc. Ngoài ra còn có gió mùa Đông Bắc: Thường gây ra gió giật, các cơn lốc và thường gây ra mưa, ẩm ướt, đồng thời nhiệt độ giảm mạnh. Gió Đông Bắc rất ít vì địa hình, địa thế phía Nam, hơn nữa do thế núi địa phương tạo ra. Vào tháng 3 đến tháng 7, gió thịnh hành theo hướng Đông và Đông Nam hết sức mát mẻ dễ chịu, mang nhiều hơi nước gọi là gió Nồm. Tốc độ gió trung bình năm vào khoảng 1,5 – 2,9m/s, vận tốc gió cực đại vào khoảng 40m/s.
  • Bão: Quảng Ngãi cũng như các tỉnh ven biển miền Trung hàng năm chịu ảnh hưởng của bão. Trung bình hàng năm có một cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp lên Quảng Ngãi gây mưa to và gió mạnh từ cấp 6 trở lên. Ngoài ra cũng có những năm có đến 3 – 4 cơn bão, thường gây ra mưa to và gió giật mạnh, có khi kèm theo hiện tượng dâng cao nước biển. Tổng số ngày chịu ảnh hưởng của gió và bão là 30 – 58 ngày, tốc độ gió lớn nhất đo được là 42m/s.
  • Thủy văn: Khu vực nghiên cứu lập quy hoạch chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn của biển Đông và sông Kinh Giang, trong đó ảnh hưởng của biển là lớn nhất.
  • Khu vực lập quy hoạch nằm trong vùng nhật triều không đều của biển Đông. Trong một tháng số ngày nhật triều chiếm 10 – 15 ngày, còn lại là bán nhật triều. Vào thời gian triều cường, mực nước lớn nhất giao động từ 1,8 – 2,6 m, trong thời gian triều kém, mực nước lớn nhất dao động từ 1,48 – 1,65 m.
  • Bảng 1: Số liệu mực nước triều:
  • Cảnh quan khu vực nghiên cứu:
    •  Khu vực nghiên cứu tiếp giáp Quốc lộ 24B, là trục giao thông chính của thành phố Quãng Ngãi kết nối trung tâm thành phố với Khu du lịch Mỹ Khê và sân bay Chu Lai.
    • Rạch nhánh sông Trà Khúc uốn lượn chia khu đất thành 2 phần, có cảnh quan tự nhiên rất đẹp và cần được khai thác hiệu quả.
    • Cánh đồng xanh tươi trãi dài hai bên bờ nhánh sông, một không gian đồng quê thơ mộng cũng cần nghiên cứu thể hiện tính đặc trưng của khu vực.
    • Khu chiến tích Sơn Mỹ hiện hữu (khoảng 3ha) chính là linh hồn của khu vực nghiên cứu – Quãng trường hòa bình Mỹ Lai- cần phải tôn tạo và phát triển, kết hợp hài hòa giũa khu chiến tích cũ và quãng trường hòa bình mới, hiện đại.
4. các vấn đề về hiện trại
  • 4.1 Dân số:

Trong khu vực quy hoạch hiện hữu có khoảng 15 căn nhà, khoảng 60 người sinh sống, và được bao bọc bởi 5-7 điểm dân cư xen kẽ giữa cánh đồng rộng lớn.

  • 4.2 Đánh giá sơ bộ hiện trạng khu vực quy hoạch :
    • Hiện trạng dân cư:
      • Tình hình dân cư: Trong khu đất quy hoạch quy họach diện tích 41,0ha sinh sống thành từng điểm dân cư nhỏ, tập trung rãi rác kết hợp với cánh đồng làm nơi sản xuất.
      • Nhà ở : Hiện trong khu quy hoạch có 15 căn nhà.
      • Công trình công cộng : Khu quy hoạch hiện không có công trình công cộng, tuy nhiên cần lưu ý các khu mộ tập thể hoặc cá nhân, là những điểm cần lưu ý và bảo tồn.
      • Cảnh quan đặc trưng:
        • Khu chiến tích Sơn Mỹ hiện hữu: quần thể công trình, tượng đài, mộ tập thể,…
        • Khu dân cư hiện hữu (gắn liền với khu chiến tích), xen cài một số vị trí mộ tập thể.
        • Cảnh quan làng quê thanh bình (xóm làng, đồng ruộng, vườn cây,…).
        • Không gian mặt nước: sông Bàu Giang chảy qua khu dự án ôm nửa phía Bắc khu đất. Cần lưu ý khai thác và kết cảnh quan đặc rưng này.
    • Tình hình sử dụng đất hiện hữu:
      • Khu quy hoạch có tổng diện tích tự nhiên là 41,0ha, trong đó được sử dụng như sau:
    • Hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật:
      •  Giao thông : Khu vực nghiên cứu có các tuyến giao thông chính: Quốc lộ 24B là tuyến giao thông nối liền thành phố Quảng Ngãi với Khu kinh tế Dung Quất, đi qua khu vực nghiên cứu với chiều dài 1,8 km (lộ giới 60m), kết cấu đường nhựa, chất lượng trung bình;
      • Cấp nước : Một bộ phận dân cư được sử dụng nguồn nước từ hệ thống cấp nước Khê Kỳ, vị trí tại Khê Thọ – xã Tịnh Khê, công suất trạm 500 m3/ngày đêm.
      • Hệ thống cấp điện: Nguồn cấp điện trong khu vực nghiên cứu được lấy từ lưới điện 22KV thuộc xuất tuyến 474/T5 và trạm Tịnh Khê . Đường dây hạ thế 0,4KV được dẫn từ các trạm biến áp hiện có trong khu vực nghiên cứu dẫn đến các phụ tải tiêu thụ. Hiện trạng sử dụng đường dây trần và dây bọc có tiết diện từ 16 mm2 – 35 mm2 đi trên các cột chữ A theo các trục đường giao thông hiện có.
      • Thoát nước: hiện khu vực quy hoạch có hệ thống cống thoát nước đô thị dọc đường Quốc lộ 24B. Nước mưa thoát tự nhiên ra hệ thống kênh rạch trong dự án.
    • Một số Công viên, khu tưởng niệm trong và ngoài nước:
      • Nghiên cứu một số công viên, khu tưởng niệm đã hình thành, từ đó đúc kết một số nét đặc trưng cơ bản và kinh nghiệm thực tiễn từ những không gian đặc trưng này.
    • Nhận xét chung:
      • Khu vực quy hoạch tương đối thuận lợi để phát triển dự án Công viên tưởng niệm hòa bình Mỹ Lai.

      • Tiếp cận trục giao thông chính quan trọng kết nối trung tâm thành phố Quảng Ngãi với khu du lịch Mỹ Khê dọc biển Đông (phía Bắc sông Trà Khúc).

      • Có không gian cảnh quan đặc trưng tiêu biểu của vùng quê Quảng Ngãi với ruộng đồng và sông nước,..

      • Có khả năng gắn kết phù hợp với Khu chiến tích Sơn Mỹ, hình thành một quần thể kiến trúc đặc trưng của công viên tưởng niệm, góp phần tạo nên hệ thống điểm tham quan đặc biệt trong tổng thể du lịch tỉnh Quãng Ngãi nói riêng và khu vực miền Trung Việt Nam nói chung.